1 Sâu Đục Thân Màu Vàng
Bướm cái có chiều dài thân từ 10-13mm, sải cánh rộng từ 23-30mm, thân và cánh có màu vàng nhạt, giữa cánh có một chấm đen to. Cuối bụng có chùm lông màu vàng nhạt dùng để phủ lên ổ trứng. Bướm đẻ đêm thứ ba sau khi vũ hóa và liên tiếp từ 2-6 đêm, cao nhất là thêm thứ 2 và 3, một bướm cái có thể đẻ từ 200-300 trứng. Trứng được đẻ thành từng ổ từ 50-80 cái và mỗi đêm một bướm cái đẻ từ 3-6 ổ trứng.
Bướm đục có thân dài từ 8-10, sải cánh rộng từ 18-20mm. Đầu ngực và cánh trước màu nâu nhạt. Cánh trước có dạng hình tam giác, giữa có một chấm đen nhỏ. Từ góc trên của cánh trước có một vệt xiên vào giữa cánh mày nâu đen lợt, cạnh ngoài cánh có 8-9 chấm đen nhỏ. Thời gian sống của bướm đực độ 4-5 ngày và của bướm cái từ 5-7 ngày.
Trứng nhỏ, màu trắng, thời gian ủ trứng từ 5-8 ngày.
Sâu non màu trắng sữa, đầu màu nâu nhạt, lớn đủ sức dài 20-25mm. Sâu có 5 tuổi, phát triển trong thời gian ủ từ 25-35 ngày.
Nhộng dài 10-15mm, màu nâu nhạt, kéo dài từ 7-10 ngày.
Vòng đời sâu đục thân màu vàng từ 45-55 ngày.
TẬP QUÁN SINH SỐNG VÀ CÁCH GÂY HẠI
Bướm vũ hóa vào ban đêm và có thể giao phối ngay sau khi vũ hóa và 2 ngày sau bắt đầu đẻ trứng. Bướm thích đẻ trứng ngay trên những dám ruộng xanh tốt, rậm rạp. Ban ngày bướm ẩn trong tán lá lúa rậm rạp gần mặt nước. Bướm bắt đầu hoạt động mạnh khi trời vừa tối và mạnh nhất từ 19-20 giờ đối với bướm cái và từ 23 giờ khuya đến 1 giờ sáng đối với bướm đực. Bướm rất thích ánh sáng đèn và vào đền nhiều lúc trăng tròn. Bướm có thể bay xa đến 2km để tìm thức ăn.
Sâu non mới nở gặm ăn chất keo và lông phủ lên ổ trứng hay ở đáy ổ trứng chui ra. Sâu tấn công cây lúa bằng hai cách tùy giai đoạn sinh trưởng của cây lúa
1 Lúa ở giai đoạn mạ hoặc đẻ nhánh: Sâu mới nở nhả tơ nhờ gió đưa sang các bụi lúa lân cận hoặc một số rớt xuống nước nhờ gió đưa theo dòng nước phân tán đến các cây khác. Khoảng 90% sâu tán được đến các cây khác, nhưng chỉ 40% trong số trên là có thể sống và đục được vào thân cây lúa. Sau khi phân tán đến các lá, sâu chui vào bên trong bẹ lá, ăn mặt trong của bẹ từ 3-5 ngày. Sang tuổi 2, miệng đủ cứng, sâu đục thân cây lúa chui vào bên trong thân, ngay phía trên mắt và thường dùng tơ bịt kín lỗ đục để nước không chui vào. Sâu ăn phá đọt non của cây lúa làm cho dưỡng chất và nước không di chuyển lên nuôi đọt được nên đọt bị héo khô, gọi là "chết đọt".
2 Lúa sắp trổ hoặc mới trổ: Sâu đục qua lá bao đòng chui vào giữa thân xong bò dần xuống phía dưới ăn điểm sinh trưởng, cắt đứt các mạch dẫn chất dinh dưỡng nuôi bông làm cho bông bị lép trắng gọi là "bông bạc"
Ở tuổi nhỏ sâu có thể sống trong thân mạ, khi thể lớn (tuổi 3), sâu chui ra ngoài vì thân cây nhỏ so với cơ thể sâu; sâu cắn đứt thân mạ một đoạn ngắn hoặc cắn đứt một đoạn lá xong cuốn lại thành ống và sống trong đó, khi di chuyển sâu mang theo mình đoạn thân mạ hoặc cuốn lá đó, do đó sâu đục thân còn có tên gọi là "sâu ống'. Thời gian sinh trưởng của sâu non tỉ lệ với bướm cái và đực và số lượng trứng của bướm cái sinh sống trên mạ thường kém hơn so với sâu ống trên lúa đã cấy.
Tỉ lệ sâu đục thân cây lúa cao hoặc thấp tùy theo tuổi của cây.
- Cây lúa ở giai đoạn mạ hay còn nhỏ, bẹ ôm sát thân, không thuận lợi cho sâu non vì khó đục được vào bên trong thân cây lúa, do đó sâu phải kéo dài thời gian phát triển. Sâu sống trong ruộng mạ càng lâu tỉ lệ chết càng nhiều. Việc nhỏ mạ đem cấy cũng làm tăng tỉ lệ chết của sâu non.
- Khi cấy lúa đẻ nhánh bẹ rất mềm, sâu đục vào dễ dàng. Trên lúa đứng cái, cấc tầng bao lá dàng cứng và nhiều, sâu đục vào khó khăn nên thường bị chết nhiều.
- Giai đoạn làm đòng, lúa chỉ có một bao đòng nên sâu đục vào bên trong thân cây lúa dễ dàng. Lúc lúa trổ, thân cây lúa cứng nên sâu khó xâm nhập.
Đặc điểm của sâu này chỉ một con sống trong một thân cây lúa khi hết thức ăn sâu chui ra ngoài tấn công sang cây khác, do đó sâu có khả năng phá hại rất cao.
Sâu cần ẩm độ cao để hóa nhộng (trên90%), do đó, sâu thường làm nhộng bên trong thân cây lúa hoặc dưới mặt đất độ 1-2cm, đôi khi nếu đồng ruộng khô hạn sâu có thể chui xuống cách mặt đất độ 10cm để hóa nhộng. Trước khi hóa nhộng sâu đục sẵn một lỗ ở thân cây lúa, chừa lại lớp biểu bì để khi nở bướm chui ra ngoài.
2 Sâu Đục Thân Sọc Nâu Đầu Đen
Bướm đục có chiều dài thân từ 7-9mm, sải cánh rộng 20-30mm. Đầu ngực màu nâu nhạt, bụng màu nâu xám. Cánh trước màu vàng nâu, cạnh ngoài có 1 hàng chấm đen, giữa cánh có 6-7 chấm đen nhỏ. Cánh sau màu nâu nhạt, lông viền cánh màu trắng bạc. Bướm cái có kích thước cơ thể từ 9-12mm, sải cánh rộng 23-28mm. Râu đầu dạng sợi chỉ màu xám tro và màu nâu xám xen kẽ nhau. Cánh trước màu nâu vàng. Thời gian sống của bướm từ 5-7 ngày.
Trứng hình bầu dục dẹp, mới đẻ màu trắng, dần chuyển thành vàng nhạt đến vàng tro, dài từ 0,70-0,85mm, ngang từ 0,45-0,60mm. Ổ trứng xếp theo dạng vảy cá, thường là 1-3 hàng, nhiều nhất 5-7 hàng. Một ổ trứng có khoảng 20-150 cái. Thời gian ủ trứng từ 5-7 ngày.
Sâu non lớn đủ sức dài từ 16-25mm. Đầu màu nâu đậm hoặc đen, lưng có 5 sọc nâu chạy dọc từ đầu đến cuối bụng. Sâu có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 20 đến 25 ngày.
Nhộng có chiều dài từ 9-16mm, ngang 2mm. Khi mới hình thành nhộng màu vàng, mặt lưng có 5 sọc dọc màu đỏ nâu, càng ngày nhộng càng đậm dần. Giai đoạn nhộng kéo dài từ 6-10 ngày.
Vòng đời sâu đục thân sọc nâu đầu đen khoảng 36-45 ngày.
TẬP QUÁN SINH SỐNG VÀ CÁCH GÂY HẠI
Bướm thường nở về đêm và bướm cái đẻ trứng 2-3 ngày sau khi vũ hóa. Bướm thích ánh sáng đèn nhưng yếu hơn so với bướm hai chấm. Bướm cái bị thu hút bởi ánh sáng đèn nhiều hơn bướm đực.
Trứng được đẻ chú yếu trên mặt lá, thường nở vào buổi sáng và có tỉ lệ nở rất cao. Cách tấn công của sâu vào bên trong cây lúa tương tự sâu đuc thân hai chấm, nhưng sâu có tập quán sống quần tụ, trong một thân cây lúa có từ vài con, đôi khi đến vài chục con, kể cả sâu tuổi lớn. Khi hết thức ăn sâu đục lỗ chui ra ngoài tấn công cây lúa khác. Vì nhiều sâu sống trong một thân cây lúa nên mau hết thức ăn, do đó một đời sâu non có thể di chuyển sang cây lúa khác từ 3-4 lần. Sâu hóa nhộng bên trong thân cây lúa hoặc ở nách lá, cách mặt nước khoảng 10 cm. Sâu và nhộng cần ẩm độ cao, thời tiết khô hạng nhộng dễ chết và bướm vũ hóa ra có hình dạng không bình thường, do đó ruộng ẩm ướt, sâu phát sinh nhiều hơn so với ruộng cạn.
3 Sâu Đục Thân Đầu nâu
Bướm đực dài 10 -13 mm, sải cánh rộng 20-25 mm. Đầu, ngực màu nâu tro nhạt, mắt kép đen, râu đầu hình sợi chỉ, nhưng những đốt cuối có hình răng cưa nhỏ. Cánh trước màu rơm đến nâu nhạt, có một hàng chấm màu tím đen ở gần sát cạnh ngoài và 5 đốm đen mờ ở giữ cánh. Cánh sau màu trắng vàng. Bụng thon nhỏ.
Bướm cái có thân dài từ 12-15mm, sải cánh rộng từ 25-31mm. Râu đầu hình sợi chỉ. Trên cánh không có những chấm đen giữa cánh như bướm đực, cạnh ngoài cánh có 7 chấm đen. Một bướm cái đẻ từ 150-250 trứng. Thời gian sống của bướm từ 5-7 ngày.
Trứng đẻ thành từng ổ, xếp hình vảy cá. Trứng hình bầu dục dẹp. Trứng mới đẻ màu trắng, sau chuyển dần thành màu nâu, sắp nở có màu đen. Trứng đẻ gần chân của lá lúa, không phủ lông. Thời gian ủ trứng từ 4-7 ngày.
Sâu non lớn đủ sức dài từ 18-20 mm, màu nâu nhạt, trên lưng có 5 sọc màu nâu chạy suốt chiều dài thân. Sâu có 5 tuổi, phát triển trong vòng từ 26-35 ngày.
Nhộng màu nâu vàng, dài từ 10-12 mm. Giai đoạn nhộng từ 5-7 ngày.
Vòng đời sâu đục thân sọc nâu đầu nâu từ 40-60 ngày.
TẬP QUÁN SINH SỐNG VÀ CÁCH GÂY HẠI
Bướm thường vũ hóa vào buổi chiều, rộ nhất từ 8-9 giờ tối. Bướm hoạt động vào ban đêm, ban ngày trốn dưới lá lúa hay cỏ dại. Bướm rất thích ánh sáng đèn, thường bướm cái vào đèn nhiều hơn bướm đực và số lượng bướm cái chưa đẻ trứng vào đèn chiếm tỷ lệ cao, khoảng 60%. Bướm cái thích đẻ trứng trên lúa xanh đậm hơn trên mạ. Vị trí đẻ trứng tùy theo giai đoạn sinh trưởng của cây lúa; trên mạ, bướm đẻ ở mặt trên của phiến lá, cách chóp lá khoảng 3 cm; trên cây lúa, bướm đẻ nhiều hơn trên bẹ, chỉ một số ít trứng được đẻ trên phiến lá. Bướm đẻ rộ nhất từ 11 giờ đêm. Vị trí ổ trứng trên bẹ lá cao hay thấp tùy mực nước trong ruộng, thường cách khoảng 3-13cm.
Hoạt động của sâu tùy thuộc vào giai đoạn tăng trưởng của cây lúa:
- Nếu cây lúa còn nhỏ, thân hẹp, thức ăn không đầy đủ, sau khi nở sâu phân tán ngay đến các cây lúa mới, mỗi thân cây có ít nhất 3 sâu.
- Khi cây lúa bắt đầu có ống, thức ăn đầy đủ hơn, sâu nở ra không phân tán ngay mà tập trung ở bẹ lá, sâu lớn dần mới bắt đầu cạp ăn mặt trong của bẹ, sau đó đục vào thân cây; khi hết thức ăn sâu đục lỗ chui ra ngoài và tìm đến cây lúa mới. Lúc lớn đủ sức, sâu ngừng ăn, cơ thể thu ngắn lại và lột xác hóa nhộng. Trước khi hóa nhộng sâu đục một lỗ xuyên qua thân cây lúa, chừa lại lớp biểu bì để khi nở bướm dễ chui ra ngoài.
- Khi cây lúa đang sinh trưởng sâu làm nhộng bên trong thân nơi đang sống hoặc nếu mật số cao, sâu thường đục ra ngoài làm nhộng ở nách lá. Nếu sâu non ở trong rạ hoặc gốc rạ muốn hóa nhộng thì phải di chuyển đến gần lỗ đục vào để làm nhộng vì nhộng cũng rất cần oxy. loài sâu này thường thích những ruộng lúa khô hạn.
Trước khi hóa nhộng sâu đục một lỗ trên thân cây, chừa lại lớp biểu bì mỏng để khi bướm vũ hóa dễ chui ra. Trên cây lúa đang tăng trưởng sâu làm nhộng giữa bẹ hay ở nách lá. Vì có nhiều sâu trong một thân cây nên sâu thường chui ra ngoài khi hết thức ăn và đục vào chính thân cây lúa đó tại vị trí khác, do đó trên thân cây héo có rất nhiều vết đục.
4 Sâu Đục Thân Màu Hồng
Bướm có chiều dài từ 12-15 mm, sải cánh rộng từ 27-30 mm. Đầu ngực màu vàng tro, bụng màu nâu nhạt. Râu đầu của bướm đực ngắn, hình răng lược, râu bướm cái hình sợi chỉ. Cánh trước có dạng hình chữ nhật màu nâu lợt, gân cạnh ngoài cánh có màu xám đen. Ngay chính giữa cánh có một vân dọc màu nâu tối kéo dài từ góc cánh đến cạnh ngoài của cánh. Cánh sau màu trắng bạc, cạnh ngoài cánh màu nâu nhạt và có rìa lông. Bướm sống từ 4-10 ngày.
Bướm cái bắt đầu đẻ trứng vào 2 hoặc 3 ngày sau khi giao phối. Thời gian đẻ trứng từ 5-6 ngày, nhiều nhất là 10 ngày. Số lượng trứng đẻ phần lớn tập trung trong 3 ngày đầu. Mỗi bướm cái có thể đẻ từ 1-15 ngày ổ trứng, trung bình 4-5 ổ. Số lượng trứng trong mỗi ổ thay đổi tùy theo lúa sâu trong năm, trung bình từ 200-250 trứng. Trứng có tỉ lệ nở rất cao, có thể trên 80%.
Trứng hình bán cầu hơi dẹp, đỉnh hơi lõm. Trên bề mặt trứng có các khía dạng mạng nhện. Trứng mới đẻ màu trắng, khi gần nở màu tím. Thời gian ủ trứng từ 4-8 ngày.
Sâu lớn đủ sức dài từ 20-30 mm, đầu nâu đậm, mặt dưới ngực và bụng màu vàng nhạt, mặt lưng màu hồng tím. Sâu có 5 tuổi và phát triển từ khi nở đến đủ sức từ 20-40 ngày.
Nhộng to, màu nâu sậm, dài 12-15 mm. Nhộng phát triển từ 7-10 ngày.
Vòng đời sâu đục thân màu hồng từ 45-60 ngày.
TẬP QUÁN SINH SỐNG VÀ CÁCH GÂY HẠI
Bướm thường vũ hóa từ 6-8 giờ tối, ban ngày ẩn nấp ở trong khóm lúa hoặc cỏ dại, ban đêm bay ra hoạt động. Bướm thích ánh sáng đèn nhưng không mạnh như bướm sâu đục thân hai chấm.
Sâu non sau khi nở thường tập trung ăn phá mặt trong bẹ lá, khi lớn sâu bắt đầu đục vào thân cây lúa hoặc phân tán đến các cây kế cận, vị trí xâm nhập vào cây lúa lúc này thường ở khoảng giữa đốt thứ 3 và 4 ( tính từ gốc lên) của thân cây lúa. Sâu tuổi 4-5 có sức ăn mạnh, có thể chui ra để đục vào lóng khác của cùng một thân cây lúa đó hoặc sang cây khác để gây hại một số ít có thể đục xuyên qua đốt thân lúa để sang lóng khác. Mỗi sâu non từ khi nở đến lúc lớn hoàn toàn có thể phá hại từ 2-3 thân cây lúa. Sâu làm nhộng bên trong thân cây lúa hoặc ngoài bẹ lá.
5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MẬT SỐ
a Thời tiết
Ẩm độ cao (trên 90%) thích hợp đối với hầu hết các loài sâu đục thân lúa. Nhiệt độ từ 19 đến 30 độ C thích hợp cho bướm hoạt động và sâu phát triển.
b Thức ăn
Ở giai đoạn vươn lóng sâu đục vào dễ dàng vì cây lúa mềm. Ở giai đoạn phân hóa đòng sâu dễ dàng đục vào bên trong thân cây làm cho cây bị hiện tượng chết đọt nhiều.
c Thiên địch
Trứng sâu đục thân thường bị ký sinh bởi ong thuộc các họ Eulophiae, Scelionidae, Trichogrammatidae, thành trùng ký sinh đẻ trứng vào trứng sâu trước khi trứng được phủ lông. Trứng sâu đục thân còn bị vạc sành, dế ăn và ăn cả lông phủ ổ trứng. Sâu và nhộng các loài sâu đục cũng bị ký sinh nhưng với tỉ lệ thấp, riêng ấu trùng tuổi 1 thường dễ bị côn trùng có ích ăn vì chưa chui vào bên trong thân cây.
6 Biện Pháp Phòng Trị
a Biện pháp canh tác
- Trồng giống lúa kháng sâu đục thân, nếu có.
- Trồng giống chín sớm và nhảy chồi nhiều.
- Cắt bỏ ổ trứng trên cây mạ trước khi cấy.
- Khi gặt chừa gốc rạ thấp để tránh sâu ở lại làm nhộng trong gốc rạ.
- Đốt đồng, cày chôn gốc rạ, phơi đất ngay sau khi gặt.
- Cho ruộng ngập nước trước khi cấy hoặc gieo.
- Không bón nhiều phân đạm.
b Biện pháp hóa học
Theo Cục Trồng trọt và Bảo Vệ Thực Vật (1991), nên áp dụng thuốc khi sâu đạt các mật số sau:
- Lúa ở giai đoạn đẻ nhánh. Lúa sạ khoảng 2 ổ trứng trên một mét vuông, lúa cấy, 1 ổ trứng/20 bụi lúa. Trong cả 2 trường hợp trên nếu ruộng ngập sâu hơn 5 cm, áp dụng thuốc nước.
- Lúa ở giai đoạn từ làm đòng đến trổ, 1 ổ trứng trên một mét vuông đối với lúa sạ hay 1 ổ trứng/ bụi đối với lúa cấy.
Theo Viện Nghiên cứu Lúa Quốc Tế (IRI)
- Ở giai đoạn nhảy chồi, sử dụng thuốc hột hay thuốc nước đều có hiệu quả, nhưng nếu ruộng có mực nước thường xuyên thấp hơn 5 cm, nên phun thuốc nước.
- Ở giai đoạn phân hóa đòng đến trổ, sử dụng thuốc hột không có hiệu quả, chỉ có thuốc nước để diệt ổ trứng, bướm và sâu tuổi nhỏ chưa chui vào thân cây.
Có thể sử dụng thuốc nước lúa lúc sâu vừa mới nở ra, chưa chui vào bên trong thân cây lúa.