Theo dõi chúng tôi liên hệ Truy cập trang Facebook

6 CĂN BỆNH DO VI KHUẨN GÂY HẠI Ở LÚA

Nông nghiệp mới

1 Bệnh Cháy Bìa Lá 

Bệnh cháy bìa lá còn được gọi là bệnh bạc lá. Tên tiếng Anh là bacterial leablight. Bệnh cháy bìa lá có mặt tại Đồng bằng sông Cửu Long từ những năm 1968, lúc mà các giống lúa IR8 được đưa vào trồng lần đầu tiên. Trong quá trình thay đổi giống lúa Ỉ, có một giai đoạn từ những năm 1985 đến 2000, nhờ sử dụng các giống lúa có gen kháng bệnh cháy bìa lá, nên bệnh không phát triển. Những năm gần đây, bệnh cháy bìa lá bùng phát trở lại trên các giống lúa ngon cơm và không có gen kháng bệnh, được thay thế các giống lúa cũ. Ngoài ra giống lúa Ỉ 50404, trước đây kháng với bệnh, nhưng nay dần bị nhiễm bệnh, có thể do sự tiến hóa của mầm bệnh. Hiện nay, bệnh cháy bìa lá là một trong các bệnh quan trọng trên lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long, vì có ảnh hưởng nhiều đến năng suất, đồng thời rất khó trị bệnh này.

CÁCH NHẬN DIỆN CHÁY BÌA LÁ

1.1 Có ba triệu chứng của bệnh cháy là lá lúa.

1 Triệu chứng thường gặp nhất của bệnh là triệu chứng cháy bìa lá mà trong đó điển hình là vết cháy dọc theo hai bên bìa của lá lúa, rồi lan dần vào gân chính của lá. Vết bệnh có thể bắt đầu từ rìa lá lan dần vào bên trong do vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào lá lúa qua các thủy khẩu dọc theo rìa lá. Tuy nhiên, vi khuẩn gây bệnh cũng có thể xâm nhập vào lá lúa từ một vết thương ở bất kỳ nơi nào trên lá lúa và gây vết bệnh lan dần theo chiều dọc của lá lúa, tạo ra vết bệnh giữa phiến lá. Về màu sắc của vết bệnh, lúc đầu vết bệnh có màu vàng nhạt hoặc màu đỏ nhạt về sau vết bệnh chuyển sang màu xám trắng tức là lúc tế bào nơi vết bệnh đã chết. Bệnh phát triển chậm trước khi lúa trổ, nhưng phát triển rất nhanh sau khi lúa trổ cho đến gần thu hoạch. Nhiều ruộng bệnh nặng đến mức toàn bộ lá lúa đều cháy khô trước khi thu hoạch. Trong điều kiện thời tiết ẩm ướt vết bệnh cháy bìa lá có dạng thấm nước và có màu xanh lợt trên vết bệnh.

Ngoài ra, bên dưới mặt lá lúa tại nơi vết bệnh có thể phát triển các giọt tròn nhỏ, màu vàng nhạt. Đó là giọt vi khuẩn do vết bệnh tiết ra. Giọt dịch vi khuẩn dễ phát hiện vào sáng sớm lúc trời còn ẩm ướt. Trong giọt nhỏ này có chứa hàng ngần con vi khuẩn gây bệnh, sẵn sàng lây bệnh ra chung quanh. 

Ở những ruộng mắc bệnh nặng lúc lúa vào chắc, vi khuẩn gây bệnh còn tấn công lên hạt lúa gây ra các đốm biến màu có viền dạng thấm nước lúc hạt lúa còn non. Khi hạt lúa sắp thu hoạch các đốm này ngả màu xám hoặc vàng trắng. 

2 Triệu chứng thứ hai của bệnh cháy bìa lá là triệu chứng Kresek. Triệu chứng Kresek chỉ phát hiện ở vùng trồng lúa cấy. Lúc nhổ mạ làm đứt rễ hoặc rễ bị cắt bớt, đồng lá cũng bị cắt bớt. Vi khuẩn xâm nhập vào rễ lúa hoặc lá lúa bị cắt và gây bệnh cho lúa sau khi cấy khoảng 7 đến 15 ngày. các lá lúa bị cuốn lại theo chiều dọc của lá, cuộn lại thành ống và cháy khô đi. Ở trường hợp triệu chứng kresek, không phát hiện vi khuẩn ở lá bệnh, nhưng vi khuẩn gây bệnh có mặt ở đỉnh sinh trưởng của chồi lúa. Đến nay, chưa phát hiện ra triệu chứng kresek tại các đỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long.

3 Triệu chứng vàng nhợt nhạt (pale yellow leaf) của bệnh cháy bìa lá thỉnh thoảng có phát hiện được tại một số nơi. Triệu chứng trên chỉ xuất hiện ở các bụi lúa đã lớn tuổi. Ở bụi lúa bệnh, một số bụi lúa ngả màu vàng xanh nhợt nhạt. Các lá già vẫn giữ màu xanh. chỉ có những lá non mới mọc ra có triệu chứng này. Có thể toàn cả lá đều ngả màu vàng nhợt nhạt, nhưng cũng có thể một vài vệt màu vàng nhợt nhạt chạy dọc theo lá lúa. Lá lúa bệnh không có chứa vi khuẩn. Ví khuẩn tích tụ ở đốt của thân cây lúa ngay nơi tiếp giáp với lá bệnh.

1.2 Tác Nhân Gây Bệnh 

Bệnh cháy bìa lá do vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. ỏyzae gây ra. Trước đây vi khuẩn này được gọi là Xanthomonas orzae, rồi sau đó Xanthomonas campestrix pv. oryzae. Vi khuẩn có một roi nên lội rất tốt trong nước. Vi khuẩn có thể sống trong khoảng nhiệt độ từ 10°C đến 40 °C. Nhiệt độ thích hợp nhất do vi khuẩn là 26 °C đến 30  °C.

1.3 Ký chủ phụ

Bên cạnh cây lúa, một số cỏ trong ruộng lúa cũng là ký chủ phụ của vi khuẩn gây bệnh cháy bài lá lúa, bao gồm cỏ lông công, cỏ rác lận, thủy trúc,vv...

1.4 Sự lưu tồn, lây lan và xâm nhiễm của bệnh

Sau vụ lúa, vi khuẩn gây bệnh cháy bìa lá lúa lưu tồn trong rơm rạ vươn vải trên ruộng, trong lúa chét và cả trong các loại cỏ là ký chủ phụ. Vi khuẩn gây bệnh còn lưu tồn trên hạt lúa vừa thu hoạch. Trên hạt lúa được lưu tồn trữ ở 25°C đến 35°C, vi khuẩn gây bệnh sống được đến 2 tháng. Vi khuẩn có mặt trên vỏ trấu cũng như bên trong hạt lúa. Tuy nhiên một số thí nghiệm cho thấy vi khuẩn trên hạt không phải là nguồn lây nhiễm bệnh chính cho vụ lúa sau. Bởi vì sau khi ngâm hạt 24 giờ và ủ hạt thì vi khuẩn chết đến 99% và chết sau 5 ngày. Nguồn vi khuẩn giữ vai trò quan trọng trong lây lan nhiễm bệnh cho vụ lúa sau là vi khuẩn sống trong rơm rạ, lúa chết và các loại cỏ là ký chủ phụ đứng trên hoặc ven đồng ruộng.

Vi khuẩn gây bệnh cháy bìa lá lây lan theo nước. Nước mưa làm bắn văng vi khuẩn sang các lá lúa lân cận và lây la ra chung quanh. Người lội vào ruộng khi lá lúa ướt nước hoặc ướt sương sẽ làm lây lan bệnh theo đường lội trong ruộng do vi khuẩn dính theo quần áo được trây trên lá lúa theo lối đi. Ngoài ra, nước mưa còn lôi vi khuẩn xuống nước ruộng. Vi khuẩn lội trong nước ruộng và lây lan bệnh cho các bụi lúa khác trong ruộng. Nước ruộng thoát ra ngoài (lúc khai nước), mang vi khuẩn ra mương, kinh, rạch và sông lớn rồi mang vi khuẩn đến ruộng khác hoặc đến nhiều vùng trồng lúa khác. 

Vi khuẩn trong nước ruộng hoặc từ lá lúa lân cận, sau khi bám lên lá lúa sẽ lội trên mặt lá lúa để tìm đến các thủy khẩu ở dọc theo rìa lá lúa và xâm nhập vào. Ngoài ra các vết thương trên lá lúa cũng là ngoài ra các vết thương vừa trên lá lúa cũng là cửa ngõ cho vi khuẩn xâm nhập vào lá lúa. Các vết thương vừa mới xảy ra là cửa ngõ dễ dàng cho sự xâm nhiễm của vi khuẩn, trong khi đó các vết thương cũ sau 24 giờ gần như không còn bị  vi khuẩn xâm nhiễm gây bệnh. Mặc khác, một số quan sát cho thấy vi khuẩn gây bệnh có tập trung ở khí khẩu của lá lúa, nhưng do không tiến vào mạch nhựa của lá lúa được nên không tạo ra bệnh.

Sau khi xâm nhập vào lá lúa, vi khuẩn gây bệnh có một thời gian chờ để nhân mật số lên, sau đó tiến dần vào mạch nhựa của lá lúa. Ở đây, vi khuẩn tiếp tục nhân mật số lên và lan dần theo mạch nhựa. Chúng ta có thể thấy được sự tuôn trào của vi khuẩn từ mạch nhựa lá lúa bệnh khi quan sát vết cắt ngang của phần lá mắc bệnh dưới kính hiển vi. Do vi khuẩn gây bệnh cháy bìa lá lúa sống bên trong mạch nhựa của lá lúa nên rất khó sử dụng thuốc hóa học trị dứt hẳn bệnh.

1.5 Các điều kiện để bệnh phát triển 

Vi khuẩn thích trời nóng hoặc ấm và ẩm ướt, nên bệnh phát triển mạnh trong vụ hè thu và thu đông. Trong vụ đông xuân, thỉnh thoảng bệnh cháy bìa lá cũng xuất hiện, nhưng do phát triển chậm nên gây hại kém hơn hai vụ kia.

Trời mưa sẽ giúp vi khuẩn lây lan ra chung quanh. Những lúc trời có giông bão, gió mạnh làm lá lúa bị rách, gãy và đây là cửa ngõ quan trọng để vi khuẩn xâm nhập. Do đó, sau các cơn mưa nặng hạt, cơn giông hoặc bão tố, bệnh cháy bìa lá bộc phát rất nhanh và hình thành dịch bệnh trong khu vực. 

Bệnh cháy bìa lá lúa thường xuất hiện vào cuối giai đoạn đẻ nhánh của ruộng lúa. Bệnh lây lan khi có điều kiện thuận lợi như mưa to, hoặc lúa có người lội vào ruộng lúc lá lúa còn ướt. Bệnh phát triển rất nhanh từ giai đoạn lúa trổ đến lúa chín.

Bệnh phát triển nhanh và nặng ở những ruộng bón phân N cao.

Ruộng sạ dầy sẽ tạo điều kiện cho bệnh xuất hiện sớm.

1.6 Đối phó với bệnh 

Ngừa bệnh:

  • Nên áp dụng các biện pháp ngừa bệnh từ đầu vụ lúa, để giảm thiệt hại do bệnh gây ra:
  • Sạ thưa, với mật độ khoảng 120kg/ha
  • Sử dụng hạt giống khỏe, ngâm ủ tốt
  • Làm đất kỹ để có mặt bằng bằng phẳng, không chỗ trũng, đọng nước và đọng phân N, là nơi bệnh phát triển nặng. Làm đất sớm để tránh vụ lúa không bị ngộ độc vì axit hữu cơ.
  • Đừng bón phân N quá cao. Vào vụ hè thu, do nắng nóng quá, cây lúa không hấp thu phân N được nên cằn cổi kém phát triển. Trong trường hợp này không nên rải thêm urê, vì khi có mưa, lúa non sẽ hấp thu quá nhiều N và là điều kiện để bệnh bộc phát, phát triển nhanh và gây hại nặng.

Trị Bệnh 

  • Bệnh cháy bìa lá rất khó trị vì vi khuẩn nằm trong mạch nhựa của lá lúa. Các thuốc trị vi khuẩn không có thể vào được trong mạch nhựa của lá, nên thuốc không giết được hết vi khuẩn trong lá lúa. Hầu hết các loại thuốc trị vi khuẩn chỉ giết được vi khuẩn trên mặt lá và giúp ngăn sự lây lan của vi khuẩn sang lá lúa lân cận. Thuốc trị vi khuẩn không trị hết hẳn bệnh cháy bìa lá lúa mà chỉ ngăn không cho bệnh lây lan thêm ra chung quanh. Hiệu quả của thuốc cũng ngắn hạn từ 4 đến 10 ngày, tùy loại thuốc và tùy vào điều kiện môi trường (mưa to làm thuốc mau hết hiệu quả). Do những đặc điểm này mà việc trị bệnh cháy bìa lá phải thực hiện thật sớm khi phát hiện ra một vài lá mắc bệnh. Khi trị bệnh sớm, chúng ta ngăn không để bệnh lây lan ra chung quanh, sẽ hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra.
  • Khi phát hiện ra có vài lá lúa mắc bệnh cháy bìa lá cần phải phun thuốc ngay. Cần phun lặp lại sau 5 đến 7 ngày tùy thời tiết. Khi thấy bệnh lây lan thêm ra phải phun thuốc tiếp để chặn sự lây lan của bệnh.
  • Có thể sử dụng các loại thuốc trị vi khuẩn có mặt trên thị trường để phun và áp dụng liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Có thể sử dụng các loại thuốc có hoạt tính sau đây để trị bệnh cháy bìa lá lúa: oxolinic acid (Starner), bronopl, bismerthiazol,....
  • Có thể sử dụng vôi để trị vi khuẩn cháy bìa lá lúa. Dùng vôi cục, loại vôi sống, với liều lượng 0,5kg cho bình phun 16 lít. Có thể pha vôi dưới dạng nước cốt, mang ra ruộng hòa thêm nước cho đủ liều lượng để phun. Sử dụng vôi có lợi là sau khi phun, vôi bám chặt lên bề mặt lá lúa lâu bị nước mưa rửa trôi. Khoảng cách giữa hai lần phun vôi là 10 ngày.
  • Trong trường hợp phát bệnh cháy bìa lá lúa xuất hiện tại một chòm lúa ruộng, có thể phun vôi cho chòm bệnh, rồi rải vôi bột lên lúa khắp chòm. Cứ 10 ngày lặp lại một lần, không để bệnh lây lan ra chung quanh. Đây là giải pháp rẻ tiền hữu hiệu.

2 Bệnh Sọc Rong



Bệnh sọc rong chỉ xuất hiện lẻ tẻ ở vài nơi tại các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên cũng có lúc bệnh xuất hiện thành dịch bệnh trong một vùng hạn chế, rồi sang vụ sau lại lặn mất. Đây là bệnh thuộc nhóm chợt đi chợt đến và không gây ảnh hưởng quan trọng tại Đồng Bằng sông Cửu Long. Tiếng Anh gọi bệnh này là Bacterial leaf streak.

CÁCH NHẬN DIỆN BỆNH SỌC RONG 

Lúc đầu, vết bệnh là những sọc nhỏ, màu xanh đậm dạng thấm nước và trong mờ, khi nhìn xuyên qua ánh sáng. Do vết bệnh có dạng trong mờ nên bệnh được gọi là bệnh sọc trong. Các sọc màu vàng có thể kéo dài ra và lan dần trên phiến lá và sau đó ngả sanh màu nâu. Trong điều kiện ẩm ướt, trên mặt lá lúa bệnh có các giọt dịch vi khuẩn tiết ra. Khi vết bệnh lan lớn ra, chỉ có thể phân biệt được với vết bệnh cháy bìa lá lúa và ở phía ngoài viền của vết bệnh cháy bìa lá có hình dợn sóng, còn viền vết bệnh sọc trong thẳng. Ở ruộng bệnh sọc trong nặng, lá lúa ngả màu vàng nâu.

2.1 Thất Thu Do Bệnh

Bệnh sọc rong không làm giảm năng suất quan trọng. Ở giống lúa nhiễm bệnh, và khi bệnh phát triển nặng làm giảm năng suất 17,5%.

2.2 Tác Nhân Gây Bệnh

Bệnh sọc rong do vi khuẩn gây ra. Hiện nay vi khuẩn gây bệnh được gọi là Xanthomanas oryzae pv. oryzicola. Trước đây còn được gọi là X. translucens hoặc X. campestrix pv. oryzicola.

Vi khuẩn gây bệnh có nhiều nòi với độc tính từ rất yếu đến rất độc. Vi khuẩn chỉ gây bệnh nặng khi là nòi rất độc trên giống lúa rất nhiễm bệnh. 

2.3 Ký chủ phụ

Vi khuẩn có ký sinh và gây bệnh trên các loài lúa hoang dại. Ngoài ra, các loài cỏ mọc trên đồng ruộng cũng có thể ký chủ phụ của vi khuẩn.

2.4 Sự Lưu Tồn, Lây Lan và Xâm Nhiễm Của bệnh

Vi khuẩn gây bệnh sọc rong lưu tồn trong rơm rạ của vụ lua trước và là nguồn lây bệnh cho vụ lúa sau. Ngoài ra, vi khuẩn cũng còn lưu tồn trên hạt lúa và bên trong vỏ trấu của hạt lúa. Vi khuẩn lây lan do nước ruộng, nước kim rạch.

Vi khuẩn xâm nhập vào lá lúa qua khí khẩu và xâm nhập nhiều vào buổi trưa hơn sáng sớm và chiều mát (do khí khẩu mở ra vào lúc có nhiều ánh sáng). Vi khuẩn cũng xâm nhập qua vết thương nhỏ do các loại rầy chích hút.

Sau khi xâm nhập, khi khuẩn sống ở phòng dưới khí khẩu của lá lúa và phát triển ra chung quanh trong nhu mô của lá lúa. Các gân nhỏ của lúa là rào cản ngăn không để vi khuẩn lan theo chiều ngang mà chỉ phát triển dọc theo lá lúa. Vi khuẩn nhân mật số lên và chiếm tát cả tế bào của nhu mô nơi vết bệnh. Vi khuẩn không phá hủy lớp pectin và celluôz của nhu mô.

Trên hạt lúa giống, vi khuẩn nằm trên hạt gạo và dưới vỏ trấu. Trong quá trình ngâm và ủ, vi khuẩn nhân mật số và xâm nhập vào diệp tiêu, bẹ lá và lá lúa đầu tiên qua các khí khẩu.

Trong điều kiện thời tiết ẩm về đêm, ngay sau khi vết bệnh hình thành, vi khuẩn tiết ra ngoài lá lúa thành các giọt dịch vi khuẩn nhỏ. Khi trời nắng và thời tiết khô sau đó, các giọt dịch vi khuẩn nầy khô và teo lại thành các hạt nhỏ màu vàng nhạt. Trên một vết bệnh có rất nhiều hạt vi khuẩn. Các hạt vi khuẩn có thể rơi xuống nước ruộng và vi khuẩn lây lan ra chung quanh.

Ngoài ra khi gặp sương đêm các hạt vi khuẩn còn trên lá lúa hút nước và sẵn sàng được gió mang đi lây bệnh cho toàn ruộng một cách nhanh chóng.

Như vậy bệnh sọc trong vừa lây lan qua hạt giống có mang mầm bệnh, vừa lây lan theo nước vừa lây lan theo cả gió.

Một số thí nghiệm còn cho thấy bệnh sọc trong còn lây lan do con người lội vào ruộng, tạo sự xây xát lá lúa vừa mang mầm bệnh theo nên sẽ lây bệnh nặng dọc theo lối đi. Ngoài ra, các cơn bão hoặc giông tố vừa làm xây xát lá lúa vừa mang mầm bệnh theo nước mưa sẽ làm lây lan bệnh rất nhanh chóng.

2.5 Các điều kiện để bệnh phát triển

Vi khuẩn gây bệnh sọc trong thích nóng và ẩm để phát triển. Do đó bệnh thường gây hại nặng trong vụ hè thu đông hơn vụ đông xuân.

Trong vụ lúa bệnh thường xuất hiện sớm trong giai đoạn đẻ nhánh của ruộng lúa. Sau khi bệnh nặng, cây lúa đâm nhánh mới và lá mới che phủ các lá bệnh bên dưới làm cho bệnh không lây lan tiếp được. Do đó chúng ta thấy bệnh xuất hiện rất nhanh, nhưng sau đó biến mất cũng nhanh chóng. Với cách gây hại này, bệnh sọc trong ít khi gây hại nặng cho năng suất vì sau đó cây lúa phục hồi nhờ các chồi mới và lá mới và lấy lại năng suất. Chỉ trừ trường hợp sử dụng giống nhiễm nặng với bệnh và gặp nòi rất độc của vi khuẩn và lúa được bón thừa đạm mới gây thiệt hại nặng cho giai đoạn lúa trổ.

Bệnh phát triển nhanh và nặng ở những ruộng lúa bón thừa phân đạm.

2.6 Đối phó với bệnh

Ngừa bệnh:

  • Không sử dụng giống lúa nhiễm bệnh nặng ở các vụ lúa trước cho các vụ lúa sau.
  • không lấy hạt lúa ở ruộng mắc bệnh nặng làm giống.
  • Ở nơi có bệnh nặng, nên ngừa bệnh bằng cách ngâm hạt giống trong các thuốc trị vi khuẩn trong 18 đến 24 trước khi ủ.
  • Làm đất tốt để cày vùi rơm rạ sâu vào đất.
  • Làm bằng mặt ruộng, không để mặt đất lồi lõm. Chỗ trũng sẽ tích tụ phân đạm bón vào ruộng, là nơi bệnh phát triển sớm và nặng.
  • Bón phân cân đối giữa NPK. Không bón dư thừa phâm đạm.

Trị bệnh:

  • Khi phát hiện ra bệnh, nên phun thuốc trị vi khuẩn sớm để chận đứng bệnh lại. Có thể sử dụng các thuốc có hoạt chất bronopol ( Totan, TT Biomycin, Xantoxi), quaternaly ammonium salt (Physan), bismerthiazol (TT Basu, Anti-XO, Atmil), các loại thuốc gốc đồng như Cốc 85 hoặc Kocide, các loại thuốc kháng sinh gentamycine + oxytetracycline (Avalon). 
  • Bệnh sọc trong dễ trị hơn bệnh cháy bìa lá lúa.

3. Bệnh thối góc do vi khuẩn


Bệnh thối gốc do vi khuẩn là bệnh mới phát hiện gần đây tại Tiểu Cần, Trà Vinh trong năm 2000. Sau đó bệnh lây lan nhanh khắp các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Bệnh thường gây hại trên lúa đang đẻ nhánh và đã phát tán. Thường gặp bệnh xuất hiện từ 15 đến 35 ngày sau khi sạ. Bệnh thối gốc cũng thường kết hợp với bệnh đạo ôn làm bụi lúa chết nhanh chóng.

CÁCH NHẬN DIỆN BỆNH THỐI GÓC

Đầu tiên, ở bẻ lá lúa, phần sát gốc có vết thối màu nâu sậm, dạng như thấm nước. Sau đó cả bẹ lá bị thối nhũn. Lá lúa ở bẹ mắc bệnh, ngả màu vàng, rồi cháy khô và gục xuống. Bẹ lá bệnh có thể bị rứt đứt dễ dàng và có mùi thối (như mùi rau cải bị thối). Bệnh lan dần cho cả bụi lúa, làm cho tất cả các bẹ đều thối. Cả gốc lúa và rễ lúa bệnh đều bị thối, ngả màu nâu đen. Bệnh làm cả bụi lúa bị chết khô. Bệnh nặng làm cả ruộng lúa bị cháy rụi.

3.1 Tác nhân gây bệnh

Bệnh thối gốc lúa do vi khuẩn Erwinia chrysanthemi gây ra. Vi khuẩn có nhiều roi (đuôi) nên lội tốt trong nước.

3.2. Sự lưu tồn, lây lan và xâm nhiễm của bệnh

Vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào bẹ lá lúa ở gần gốc và gây vết thối trên bẹ sau 2 ngày và giết chết bụi lúa sau 3 hoặc 4 ngày. Bệnh xâm nhập qua vết thương ở bẹ lá hay qua rễ thối vì ngộ độc acid hữu cơ. Vi khuẩn từ bụi lúa bệnh lan ra nước ruộng và lây lan ra các bụi lúa chung quanh, nhờ lội trong nước ruộng.

Vi khuẩn lây lan nhờ nước ruộng, nước kinh rạch và nước sông. Qua nước sông vi khuẩn lây lan đi rất xa.

Sau vụ lúa, vi khuẩn lưu tổn trong rạ của bụi lúa bệnh, và gây bệnh cho vụ lúa kế tiếp.

3.3. Các điều kiện để bệnh phát triển

Vi khuẩn gây bệnh thối gốc lúa thích nhiệt độ cao và trời ẩm ướt. Bệnh thường gây hại nặng cho vụ lúa hè thu (nhất là những lúc nắng mưa xen kẻ) và vụ lúa thu đông.

Bệnh thường gây hại ở chỗ trũng trong ruộng, nơi có mực nước cao và là nơi tụ tập phân đạm của ruộng lúa.

Ruộng lúa bón phân đạm cao và mất cân đối cũng như ruộng thường có chỗ trũng thường bị bệnh nặng.

Một số giống lúa được xem là nhiễm nặng với bệnh như OM 4218,vv...

3.4 Đối phó với bệnh

Ngừa bệnh:

  • Cày vùi rơm rạ tốt lúc làm đất. Làm bằng mặt ruộng để không có chỗ trũng trong ruộng.
  • Rải vôi, 200 kg/ha lúc trục đất để diệt vi khuẩn gây bệnh trong đất và nước ruộng
  • Không nên sử dụng giống lúa nhiễm nặng với bệnh làm giống cho các vụ sau.

Trị bệnh:

Khi ruộng lúa chớm có bệnh xuất hiện cần thực hiện các thao tác sau:

  • Tháo nước ra khỏi ruộng.
  • Rải 200 kg vôi bột /ha, tập trung rải ở vùng có bệnh và chung quanh.
  • Nếu ruộng khô nước, sau khi rải vôi, cho nước vào lấp xấp để hòa tan vôi thành dung dịch sát khuẩn, diệt hết vi khuẩn trên mặt đất và trong nước.
  • Phun thuốc trị vi khuẩn lên thân lúa để diệt vi khuẩn trên thân lúa. Có thể sử dụng các loại thuốc trị bệnh cháy bìa lá lúa như các thuốc có các hoạt chất sau bronopol (Totan, TT Biomycin, Xanthocin), quaternaly ammonium salt (Physan), bismerthiazol (TT Basu, Anti-XO, Atamil), các loại thuốc gốc đồng như Cốc 85 hoặc Kocide, các loại thuốc kháng sinh gentamycine + oxytetracycline (Avalon).

4. Bệnh thối nâu bẹ lúa do vi khuẩn

Bệnh thối nâu bẹ lúa do vi khuẩn gây ra vừa mới đ
ược phát hiện gần đây qua hình của anh Lê Văn Út ở Phú Tân, An Giang, gửi hình đến hỏi trong năm 2014. Bệnh này đã có mặt tại nhiều nước trồng lúa trên thế giới về được báo cáo vào năm 1955. Trên thế giới, bệnh thối nâu bẹ lúa cũng chỉ là bệnh thứ yếu, chưa gây ảnh hưởng quan trọng.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, do mới phát hiện nên sự hiểu biết về bệnh chưa nhiều.

CÁCH NHẬN DIỆN BỆNH THỐI NÂU BẸ

Đầu tiên có vết màu xanh đậm dạng thấm nước trên bẹ của bụi lúa. Sau đó vết bệnh lan lớn ra trên bẹ và ngả sang màu nâu sậm. Vết bệnh lan dần lên đến cổ lá. Bệnh có thể lan lên làm thối của một phần của lá lúa. Đọt của chồi lúa mắc bệnh ngả vàng và héo chết.

4.1 Tác nhân gây bệnh

Bệnh do vi khuẩn gây ra. Lúc đầu, Klement(1995) gọi là Pseudomonas oryzicola. Sau đó vi khuẩn này được đổi tên nhiều lần và sau cùng Tanii và ctv (1976) gọi là vi khuẩn Pseudomonas fuscovaginae.

4.2 Đối phó với bệnh

Nếu cần có thể sử dụng thuốc trị vi khuẩn phun để chận đứng bệnh lại.

5. Bệnh vàng sọc lá do vi khuẩn

Bệnh còn được gọi là bệnh vàng lá do vi khuẩn. Bệnh xuất hiện nặng vào vụ đông xuân năm 2008. Bệnh không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất vụ lúa nếu trị bệnh kịp thời.

CÁCH NHẬN DIỆN BỆNH VÀNG SỌC LÁ

Bệnh xuất hiện vào giai đoạn lúa đang đẻ nhánh. Lúc đầu lá lúa có các vết thấm nước màu xanh đậm. Sau đó lá lúa ngả màu vàng rồi vàng nâu xỉn màu với các vệt, sọc hoặc đốm màu nâu. Bệnh có thể lan ra cả ruộng và làm cho ruộng ngả màu vàng nhạt. Bệnh có thể lan ra cả ruộng và làm cho ruộng ngả màu vàng nhạt dưới ánh nắng mặt trời. Bệnh nặng có thể làm chết chồi lúa.

5.1 Tác nhân gây bệnh

Bệnh do vi khuẩn gây ra. Chưa xác định được là vi khuẩn gì. Nghi ngờ là do vi khuẩn Pseudomonas avenae

5.2 Sự lây lan của bệnh

Bệnh lây lan theo nước mưa, nước sương và nước ruộng. Lội vào ruộng có bệnh lúc lá lúa còn ướt nước sẽ làm bệnh lây lan nhanh hơn.

5.3 Các điều kiện để bệnh phát triển

Bệnh phát triển vào mùa mưa, trời ẩm ướt. Ruộng lúa bón thừa N cũng như ruộng lúa có mực nước cao là điều kiện để bệnh bộc phát nặng.

5.4 Đối phó với bệnh

  • Trước đây, biện pháp phun nước vôi cho thấy có hiệu quả chận đứng bệnh. Như vậy có thể phun nước vôi với nồng độ 500g vôi sống trong một bình phun 16 lít nước. Phun 2 bình cho một công.
  • Có thể sử dụng các loại thuốc đặc trị vi khuẩn để phun trị bệnh. Có thể sử dụng thuốc có hoạt chất bronopol, quaternaly ammonium salt, các loại thuố gốc đồng như Cốc 85 hoặc Kocide, các loại thuốc kháng sinh gentamycine + oxytetracycline,vv...

6 Bệnh Lép Vàng Do Vi Khuẩn

Bệnh lép vàng do vi khuẩn có mặt tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long từ lâu và còn được bà con nông dân gọi là" bệnh bắn máy bay". Bệnh gây lép hạt lúa và làm thất thu đáng kể nếu không có biện pháp phòng ngừa.

CÁCH NHẬN DIỆN BỆNH LÉP VÀNG

Bệnh xảy ra lúc lúa ngậm sữa. Lúc này có những nhánh gié  bị nhiễm bệnh nên bị lép, vỏ trấu vẫn giữ màu vàng hoặc xanh nhợt nhạt. Lúc hạt lúa vào chắc, các nhánh gié không bệnh có hạt nặng nên làm nhánh gié ấy oằn xuống, trong khi đó các nhánh gié mắc bệnh, nhẹ hơn nên còn đứng thẳng. Bệnh gây hại cho một vài nhánh gié của gié lúa. Bệnh nặng hơn làm cả gié lúa đều bị lép. Nếu tách vỏ trấu của những hạt mắc bệnh ra, sẽ thấy phôi nhũ của hạt lúa bị thổi nên không vào chắc được.

Vi khuẩn gây bệnh còn gây hại ở giai đoạn mạ, làm bẹ lá của cây mạ bị thối nâu, nhũn nước và cuối cùng làm chết cây mạ.

6.1 Tác Nhân Gây Bệnh

Bệnh do vi khuẩn Burkholderia glumae gây ra. Trước đây vi khuẩn được gọi là Pesudomonas glumae.

Sự Lưu Tồn, Lây lan và Xâm Nhiễm Của Bệnh

Vi khuẩn lưu tồn khá lâu trên hạt lúa tồn trữ ở nhiệt độ bình thường. Vi khuẩn còn lưu tồn trong đất, do rơm rạ mắc bệnh của vụ trước được chôn vùi khi làm đất.

Vi khuẩn gây bệnh từ hạt giống, phát triển trên cây mạ và có thể giết chết cây mạ. Vi khuẩn cũng có thể từ đất lây lan lên cây mạ. Nếu mật số vi khuẩn thấp, vi khuẩn vẫn sống ở bẹ lá lúa mà không gây nên triệu chứng lá cờ của chồi lúa sẽ xâm nhập vào các bông lúa lúc gié lúa bắt đầu trồi ra trổ đồng. Vi khuẩn gây bệnh tấn công vào phôi nhũ của hạt lúa non và làm cho phôi nhũ bị thối nhũn có mùa nâu hoặc đen.

Vi khuẩn gây bệnh lây lan theo nước. Nước mưa bắn vi khuẩn từ bông lúa này sang bông lúa khác và lây lan bệnh. Gió thổi mạnh lúc lá lúa còn ướt cũng là tác nhân làm các gié lúa cọ xác vào nhau và làm bệnh lây lan ra chung quanh.

Ngoài ra, vi khuẩn gây bệnh cũng có thể tiếp tục lây lan từ bông lúa này sang bông lúa khác, từ gié lúa này sang gié lúa khác, trong lúc lá và gié lúa còn ướt và có người lội vào ruộng. Vi khuẩn từ gié lúa nhiễm bệnh dính vào quần áo ướt của người lội vào ruộng sẽ làm lây bệnh dọc theo đường đi, do đó được bà con gọi là "bệnh lép dọc đường".

6.2 Các Điều Kiện Để Bệnh Phát Triển 

Vi khuẩn gây bệnh lép vàng thích trời nóng, ẩm và ẩm ướt. Do đó bệnh gây hại nặng trong vụ hè thu và vụ thu đông. Vụ đông xuân trời mát và lạnh, bệnh lép vàng không gây hại nặng.

Ruộng lúa bón nhiều phân đạm sẽ làm cho bệnh phát triển nhanh chóng và khó phòng bệnh được. Lý do là ở ruộng lúa có quá nhiều phân đạm, lá lúa to bản và yếu nên quặc xuống (lúa trùm mền), tạo điều kiện ẩm ướt và từ thân lúa tiết ra nhiều chất dinh dưỡng giúp vi khuẩn phát triển rất nhanh bên ngoài bẹ lá và cổ lá. Do mật số vi khuẩn bên ngoài cao nên khả năng vi khuẩn xâm nhập vào bông lúa lúc lúa trổ đòng là dễ xảy ra và làm cho bệnh phát triển nhanh và nặng.

Hạt lúa thu hoạch từ ruộng mắc bệnh lép vàng sẽ có nhiều vi khuẩn trên hạt và là điều kiện để bệnh gây hại nặng cho ruộng lúa về sau.

6.3 Đối phó với bệnh

  • Không sử dụng hạt giống từ ruộng đã mắc bệnh lép vàng nặng.
  • Xử lý hạt giống trước khi ngâm ủ là cần thiết. Ngâm hạt giống với một trong các loại thuốc trừ vi khuẩn như oxolinic acid, bronopol trong thời gian từ 18 đến 24 giờ.
  • Làm bằng mặt ruộng trong lúc làm đất để trong ruộng không có chỗ trũng, là nơi tích tụ phân đạm của ruộng lúa, và sẽ là nơi dễ bị mắc bệnh nặng. 
  • Phun thuốc ngừa vi khuẩn hai lần vào lúc lúa bắt đầu trổ lẹt xẹt (càng sớm càng tốt) và lúc lúa trổ đều (khoảng 5 đến 7 ngày sau lần  thứ nhứt).
  • Có thể sử dụng một trong các loại thuốc trị vi khuẩn như: oxolinic acid, bronopol, quaternaly ammonium salt, bismerthiazol, các loại giốc đồng như Cốc 85 hoặc Kocide, các loại thuốc kháng sinh gentamycine + oxytetracycline, hoặc các loại thuốc sinh học như xạ khuẩn Streptomyces lydicus.
  • Khi phát hiện ra ruộng có bệnh lép vàng,  nên phun một trong các loại thuốc trị vi khuẩn kể trên. Sau khi phun thuốc bệnh sẽ bị chặn đứng lại. Tuy nhiên, 5 đến 7 ngày sau, bệnh có thể tiếp tục lan rộng ra vì hiệu quả của thuốc trị khuẩn thường ngắn. Do đó cần phun thuốc lập lại sau 5-7 ngày. Chỉ lội vào ruộng khi lúa đã khô nước sương hoặc nước mưa.

Đăng nhận xét

Cookie Consent
We serve cookies on this site to analyze traffic, remember your preferences, and optimize your experience.
Oops!
It seems there is something wrong with your internet connection. Please connect to the internet and start browsing again.
AdBlock Detected!
We have detected that you are using adblocking plugin in your browser.
The revenue we earn by the advertisements is used to manage this website, we request you to whitelist our website in your adblocking plugin.
Site is Blocked
Sorry! This site is not available in your country.